Phúc lành của một tuổi thơ cô độc


Chương 3: Ngôi làng của những phúc lành

Tôi vẫn luôn nhớ lại về ngôi làng nhỏ nơi mà tôi được sinh ra. Tại sao sự tồn tại lại chọn ngôi làng nhỏ đó là nơi đầu tiên thì thật không thể giải thích được. Nó chính xác là nơi mà nó phải là. Ngôi làng đó rất đẹp. Tôi đã đi du lịch rất nhiều nơi nhưng tôi chưa bao giờ đi qua nơi nào có được cùng vẻ đẹp ấy. Không từng có nơi nào giống như nó.

Ngôi làng chỉ có vài túp lều gần bên một cái ao, và một vài cái cây cao nơi tôi thường chơi. Không có ngôi trường nào trong cái làng đó. Đó là điều vô cùng quan trọng, bởi vì tôi cứ tiếp tục giữ được tình trạng vô học thức trong gần như bảy năm và đó là những năm tháng kiến tạo nên tính cách một con người nhiều nhất. Sau đó, bất kể bạn cố gắng thế nào, bạn không thể trở nên học thức được nữa. Vậy nên bằng cách nào đó tôi vẫn giữ nguyên là một người vô học thức, mặc dù tôi sở hữu rất nhiều bằng cấp – bất cứ kẻ ngu nào cũng có thể có được chúng. Không chỉ những bằng cấp bình thường nhưng một cái bằng thạc sĩ hàng đầu đi chăng nữa cũng có thể được đạt bởi bất cứ tên ngốc nào. Vậy nên rất nhiều những tên ngốc vẫn luôn giành lấy các tấm bằng mỗi năm qua mà không biết rằng chúng không có bất cứ ý nghĩa gì với cuộc đời hết.

Ở ngôi làng đó không có trường học, không có những con đường lớn, không có xe lửa, không có bưu điện nào cả. Thật là một phúc lành. Ngôi làng nhỏ đó tự nó là một thế giới thu nhỏ theo cách của riêng nó. Thậm chí sau khi tôi đi xa khỏi ngôi làng nhưng tôi vẫn luôn còn ở trong thế giới riêng của nó – thế giới của sự vô học thức. Cho đến cuối cùng, ngôi làng đó vẫn không thay đổi: không con đường nào nối với nó, không đường rày nào chạy qua nó, thậm chí bây giờ sau gần 50 năm, không bưu điện nào, không trạm cảnh sát nào, không bác sĩ nào – trên thực tế không có ai ốm yếu trong ngôi làng đó cả để mà cần bác sĩ, nó rất trong lành và không bị ô nhiễm chút nào.

Tôi biết những người trong ngôi làng đó, rất chân chất, họ là những người chưa từng nhìn thấy một đoàn xe lửa, những người chưa từng thấy thậm chí một chiếc xe bus hay một chiếc xe hơi, họ là những người mà sẽ rất kinh ngạc nếu trông thấy những thứ như vậy. Họ không bao giờ rời khỏi ngôi làng. Họ sống đầy tràn phúc lành và thầm lặng.

Nơi tôi sinh ra, Kuchwada, tuy không có tàu lửa lẫn bưu điện nhưng nó có những quả đồi nhỏ, khá nhiều những đụn đất và có một cái hồ rất đẹp và một vài túp lều nữa – những túp lều lợp bằng rơm. Có một ngôi nhà bằng gạch – là nơi mà tôi đã lớn lên và cũng không có nhiều những căn nhà bằng gạch như vậy trong làng. Dù được xây bằng gạch nhưng nó cũng chỉ là một căn nhà rất nhỏ.

Tôi có thể nhìn thấy nó ngay lúc này, và có thể miêu tả nó đến từng chi tiết, nhưng hơn cả ngôi nhà hay ngôi làng, tôi nhớ những con người ở đó. Tôi đã đi qua hàng triệu con người, nhưng con người ở trong ngôi làng đó thì chất phác hơn bất cứ ai, bởi vì họ cực kì nguyên thủy. Họ không biết gì về thế giới, thậm chí không một tờ báo nào đã từng đến được với ngôi làng. Bạn có thể hiểu tại sao ở đó không có trường học, thậm chí cả trường tiểu học. Thật quá đỗi phúc lành! Không một đứa trẻ hiện đại nào có được diễm phúc đó.

Tôi luôn được sống trong trạng thái vô giáo dục những năm ở đó và đó quả thực là những năm tháng tươi đẹp nhất.

Trong ngôi làng của ông bà ngoại tôi thường hay lui tới một hồ nước hoặc một con sông. Con sông thì hơi xa hơn một chút, có lẽ hai dặm, vậy nên tôi phải chọn đến cái hồ thường xuyên hơn. Nhưng đôi lần tôi cũng đi ra sông, bởi vì tính chất của hồ và sông là hoàn toàn khác biệt. Một cái hồ, theo cách nào đó, là chết, là đóng, không thể tuôn chảy, không đi tới bất cứ đâu, tĩnh. Đó là nghĩa của cái chết: không có chút nào năng lượng tích cực của sự chuyển động.

Dòng sông thì khác, luôn tuôn chảy đến một nơi không biết trước nào đó, có lẽ nó cũng không quan tâm nơi nó sẽ chảy đến là đâu, nhưng nó cứ chảy mãi, không quan tâm chảy để đạt được gì. Hồ thì bất động, cứ ở mãi nơi nó ở, đơn giản là chết, mỗi ngày đều chết, không có sự phục sinh. Nhưng dòng sông thì đầy sức sống, kể cả với một dòng sông nhỏ, hay sông lớn như đại dương, bởi vì sớm hay muộn nó cũng tới với đại dương.

Tôi yêu cảm giác của những dòng chảy: cứ trôi đi, tuôn trào, di chuyển một cách sinh động. Vậy nên thậm chí kể cả khi dòng sông xa hơn hai dặm, thỉnh thoảng tôi cũng đi đến đó chỉ để được thưởng thức nó. Còn lại tôi thường chọn bơi trong hồ.

Nhà chúng tôi ở một nơi rất đẹp, ngay trước cái hồ rộng hàng dặm: quá đẹp và quá tĩnh lặng. Chỉ thỉnh thoảng bạn mới có thể thấy những đàn cò trắng bay qua hay chỉ khi vào mùa sinh sản chúng thường gọi nhau để tìm bạn tình, chỉ lúc ấy sự yên bình mới bị quấy nhiễu. Nếu không thì đó gần như một nơi tuyệt vời để thiền định. Và sau những cuộc gọi tìm bạn tình ấy của đàn chim, sự yên bình còn trở nên đậm đà hơn, sâu sắc hơn.

Cái hồ đầy ắp những hoa sen và tôi cứ ngồi đó hàng giờ với sự mãn nguyện – như thể cả thế giới đều không phải là vấn đề khi mà xung quanh là những bông sen, đàn cò trắng, sự tĩnh lặng.
Ngôi làng cũng có một cái ao xưa, rất xưa cũ, với những cái cây xưa cũ xung quanh nó – chúng có lẽ đến hàng trăm tuổi – cùng với những phiến đá đẹp ở xung quanh và dĩ nhiên sẽ có những con ếch đã nhảy ra nhảy vào. Basho đã làm thơ để mô tả vẻ đẹp của nó:
“Ao xưa.
Ếch nhảy vào.
Tõm!”
Đây mà là miêu tả sao? Kiểu miêu tả gì vậy chứ? Mọi thứ chỉ như vô tình được nhắc tới. Đó chính là vẻ đẹp của Basho: ông ấy có thể miêu tả thứ gì đó mà không thật sự miêu tả nó. Ông ấy có thể nói về thứ gì đó mà thậm chí không đề cập tới dù chỉ một từ liên quan tới nó. Ngày qua ngày bạn có thể nghe tiếng “tõm” của con ếch, lần nữa rồi lại lần nữa.
Tiếng con ếch nhảy vào thật sự giúp tôn vinh sự im lặng ở đó. Âm thanh đó làm cho sự im lặng đó tràn đầy hơn, ý nghĩa hơn.

Bạn sẽ ngạc nhiên khi biết tôi đã không quay trở lại ghé thăm ngôi làng một lần nào nữa. Một lần với ý nghĩa tràn đầy là đủ, đủ cho mãi mãi. Không cần lần thứ hai.
Và dù không trở lại ngôi làng – nhưng sự tĩnh lặng của cái ao xưa đó thì đã ở lại với tôi – mãi mãi.

Chương 4: Một đứa trẻ cô độc

Tôi là một đứa trẻ cô độc bởi vì tôi đã được đưa đến cho ông bà ngoại nuôi ngay từ sau khi ra đời. Tôi không ở cùng cha mẹ mình suốt bảy năm đầu đời. Ông bà ngoại tôi là hai người già cô độc, họ muốn có một đứa trẻ ở bên để làm họ vui vẻ hơn trong những ngày cuối đời. Vậy nên cha mẹ tôi đã đồng ý: tôi là đứa trẻ lớn nhất – là đứa con đầu lòng, vậy nên họ đã gửi tôi đến đó.

Tôi không nhớ bất cứ mối liên hệ nào với gia đình cha tôi trong những năm đầu đời ấy. Chỉ cới ba người già – ông bà ngoại tôi và người giúp việc già của họ. Tất cả là ba người già. Khoảng cách thế hệ quá lớn. Tôi hoàn toàn cô độc. Đó không phải là một tập thể, đó không thể được xem là một tập thể. Họ đã luôn cố gắng bằng mọi cách để trở nên hòa nhập với tôi – nhưng đơn giản là không thể.

Tôi bị bỏ mặc với chính mình: không có bất cứ điều gì để nói với những người già ấy, cũng không có ai khác bên cạnh, bởi vì trong ngôi làng nhà chúng tôi là giàu nhất. Đó là một ngôi làng rất nhỏ – tất cả không nhiều hơn 200 người – và họ thì quá nghèo nên ông bà không cho phép tôi chơi cùng với những đứa trẻ nhỏ khác trong làng. Chúng quá bẩn thỉu và đa phần chỉ là những đứa trẻ ăn xin. Không có cách nào để kết bạn cả. Những điều này đã tạo nên một tác động lớn. Suốt cả đời tôi chưa bao giờ thực sự làm bạn của ai, tôi chưa bao giờ được ai biết đến như là một người bạn cả. Vâng, người quen thì tôi có.

Trong những năm đầu đời tôi đã luôn một mình đến nỗi tôi bắt đầu thưởng thức nó. Đó thật sự là một niềm vui. Vậy nên việc một mình không phải thiệt hại gì với tôi cả, nó đã chứng minh là một phúc lành. Tôi bắt đầu thưởng thức nó, tôi bắt đầu cảm thấy rất độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ ai.

Cả đời tôi cũng không bao giờ hứng thú với những trò chơi vì lý do đơn giản rằng từ thời thơ ấu đã không có cách nào để chơi cả, không có ai ở đó để chơi cùng cả. Tôi có thể nhìn thấy lại chính tôi trong những năm tháng đầu đời, chỉ ngồi lặng yên một mình.

Ông bà tôi đã sớm nhận ra một điều rằng tôi đang thưởng thức sự một mình đó. Họ nhận ra rằng tôi không có mong muốn đi vào làng để gặp bất cứ ai dù cho chỉ là trò chuyện. Thậm chí nếu ai đó muốn nói chuyện, câu trả lời của tôi cũng chỉ là ‘vâng’ hoặc ‘không’. Tôi không hứng thú việc trò chuyện một chút nào. Vậy nên dần dà họ trở nên nhận biết rằng tôi đang thưởng thức sự một mình. Họ tự nhận thức thêm rằng một trong những nghĩa vụ thiêng liêng của họ – là không được làm phiền tôi.

Vậy nên trong bảy năm ấy không hề có ai cố phá vỡ sự ngây thơ của tôi. Không ai cả. Ba người già sống trong ngôi nhà – tất cả họ đều bằng mọi cách có thể để bảo vệ tôi, để không ai làm phiền đến tôi. Trên thực tế khi lớn hơn một chút tôi có cảm giác hơi bối rối rằng bởi vì tôi mà họ đã không thể nói chuyện, không thể bình thường được như những người khác.
Điều thường xảy ra với những đứa trẻ là bạn bảo chúng: “Hãy yên lặng bởi vì cha của con đang suy nghĩ. Hãy yên lặng vì ông của con đang nghỉ ngơi. Hãy yên lặng, hãy ngồi im.” Trong thời thơ ấu của tôi nó xảy ra theo cách hoàn toàn ngược lại. Giờ tôi cũng không thể trả lời tại sao và như thế nào, nó cứ xảy ra như vậy. Có lý do tại sao tôi nói nó cứ đơn giản xảy ra. Bởi vì những thứ như là luật lệ, quy tắc đơn giản không bao giờ có tác dụng với tôi.

Ba người già ấy cứ tiếp tục ra hiệu với nhau “Đừng làm phiền thằng bé – nó đang tận hưởng rất nhiều.”

Và họ bắt đầu yêu cái sự im lặng của tôi. Sự im lặng tự bản thân nó có một rung động, nó là một thứ có thể lây truyền, đặc biệt là sự im lặng tự nhiên của một đứa trẻ không bị ép buộc. Không phải vì bạn nói “Ta sẽ đánh con nếu con có bất cứ hành động quấy rầy hay làm ồn nào”. Không, đó không phải là im lặng – điều này không tạo ra bất cứ rung động hân hoan nào mà tôi đang nói đến. Khi một đứa trẻ im lặng vì chính nó lựa chọn việc im lặng, làm chủ sự yên lặng, tận hưởng sự im lặng đó mà không cần có lý do thế thì niềm hạnh phúc của nó cũng không cần lý do. Những rung động của niềm hạnh phúc này tạo ra những gợn sóng lớn lan tỏa khắp xung quanh.

Trong một thế giới tốt hơn, mỗi gia đình sẽ học được từ những đứa trẻ. Bạn cứ luôn vội vàng đòi dạy dỗ chúng. Dường như không ai học được gì từ bọn trẻ cả, chúng có rất nhiều thứ để dạy bạn. Và bạn không có gì để dạy chúng cả.

Chỉ bởi vì bạn già hơn và mạnh hơn nên bạn bắt đầu ép buộc chúng, làm cho chúng trở nên giống như bạn, mà thực tế bạn chưa từng bao giờ nghĩ bạn là ai, bạn đã đạt được những gì, trạng thái sâu nhất của thế giới bên trong của bạn là đâu. Bạn chỉ là một kẻ bần cùng, và bạn muốn cùng điều đó cho những đứa trẻ của bạn nữa sao? Nhưng không ai nghĩ cả, nếu không thì người ta có thể học được từ những đứa trẻ nhỏ. Những đứa trẻ mang rất nhiều điều từ thế giới khác tới đây bởi vì chúng dường như tinh khiết thế. Chúng vẫn còn mang theo sự tĩnh lặng của tử cung dày đặc bóng tối – đó là sự im lặng của sự tồn tại, của cái bất tử.

Trích Đứa trẻ nổi loạn (Thời thơ ấu của Osho)
Phi Tuyết dịch
Liên hệ mua sách:
Fanpage: https://www.facebook.com/cuocdoiosho/
Trang cá nhân: https://www.facebook.com/phi.tuyet.1990
Hotline: 0933494926


Combo 2 cuốn: Đứa trẻ nổi loạn + Cách mạng giải phóng trẻ em = 500k

Link mua bộ sách đã xuất bản của tác giả Phi Tuyết: Sống khác đi, đừng để đời phung phí:
https://tiki.vn/combo-sach-song-khac-di-dung-de-doi-phung-phi-p13628589.html
https://phituyet.com/combo-sach
Combo gồm:
Sống như ngày mai sẽ chết (Triết học đường phố)
Tại sao chúng ta không hạnh phúc? (kiến thức quan trọng bạn cần biết)
Khi ta muốn ta sẽ tìm cách, khi không muốn ta tìm lý do (những câu chuyện)
Nghĩ khác để sống khác (Triết học tâm hồn)
Và một giỏ vài in thông điệp cuộc sống.
Giá toàn bô combo = 490k

Xin chào thân ái và đoàn kết!
Namaste