Osho: Mưa rào không mây


Loạt bài nói này mà tôi đã gọi là Mưa rào không mây sẽ là cuộc hành trình hoàn toàn mới. Mãi cho tới nay tôi đã nói về những đàn ông chứng ngộ; bây giờ lần đầu tiên, tôi sẽ nói về đàn bà chứng ngộ. Dễ nói về đàn ông chứng ngộ – tôi có thể hiểu được họ, chúng tôi thuộc cùng một kiểu. Sẽ có khó hơn chút ít khi nói về đàn bà chứng ngộ. Con đường có hơi không quen thuộc.

Tại cốt lõi bên trong nhất đàn ông và đàn bà là một, nhưng cách diễn đạt của họ rất khác nhau. Cách hiện hữu của họ, cách họ nhìn vào mọi thứ, cách họ nghĩ, phát biểu của họ không chỉ khác nhau mà còn đối lập nhau. Cho tới giờ tôi chưa từng nói về đàn bà chứng ngộ nào. Nhưng nếu bạn có hiểu biết nào đó về đàn ông chứng ngộ, nếu bạn có chút ít hương vị của chứng ngộ, có lẽ bây giờ sẽ dễ dàng cho bạn để hiểu cả về đàn bà chứng ngộ.

Chẳng hạn, tia sáng mặt trời là trắng nhưng khi đi qua lăng kính nó phân thành bẩy mầu. Mầu lục không đỏ và mầu đỏ không lục – mặc dầu cả hai đều được tạo nên bởi việc phân chia cùng tia sáng. Và chung cuộc chúng sẽ lại gặp nhau và trở thành một tia sáng. Trước khi phân chia chúng đã là một, và lần nữa, sau khi hội nhập chúng sẽ trở thành một. Nhưng ở giữa có khác biệt lớn và khác biệt rất dịu. Có khác biệt lớn giữa chúng và khác biệt này không nên bị phá huỷ. Phân biệt bao giờ cũng nên còn lại bởi vì trong chính khác biệt đó là tinh hoa của cuộc sống. Cứ để đỏ là đỏ, để xanh là xanh đi. Đó là lí do tại sao hoa đỏ nở trên cây xanh. Hoa xanh trên cây xanh sẽ không có vẻ đẹp; hoa đỏ trên cây đỏ sẽ trông không giống hoa.

Trong thực tại cuối cùng, đàn ông và đàn bà là một. Tại đó, tia sáng trở thành trắng. Nhưng trong sự tồn tại, trong cái biểu lộ, trong cách diễn đạt, họ là khác nhau. Khác biệt này rất tuyệt vời. Không cần phải xoá bỏ khác biệt; nó nên được nâng cao hơn! Khác biệt không nên bị phá huỷ nhưng cái thống nhất bị dấu kín bên trong chúng cần phải được thấy. Khi bạn bắt đầu thấy cùng dấu hiệu bên trong đàn ông và đàn bà mà không phá huỷ khác biệt của họ, chỉ thế thì bạn mới có mắt.

Nghệ nhân chơi đàn veena gẩy dây đàn và các nốt nhạc phát sinh. Ngón tay vẫn thế, dây đàn vẫn thế, chỉ với chút ít thay đổi trong chuyển động của ngón tay nhiều âm thanh phát sinh ra. May là nhiều nốt này xảy ra, bằng không sẽ chẳng có cách nào để âm nhạc có đó. Nếu chỉ có một nốt sẽ rất không có tính nhạc, nó sẽ gây ra chán lắm.

Thế giới này đẹp bởi vì cái một này và sự hài hoà trong tính đa dạng. Nhạc sĩ là một, nhạc cụ là một; cùng dây đàn tạo ra âm thanh, cùng ngón tay chạm vào dây đàn nhưng có biết bao nhiêu thanh điệu khác nhau có thể nảy sinh.

Đàn ông là một trong những thanh này, đàn bà là thanh khác; họ không chỉ khác nhau, tôi nói họ còn đối lập nhau. Đây là lí do tại sao có hấp dẫn thế giữa họ. Họ là khác biệt lẫn nhau, do đó mới có khao khát mạnh mẽ để biết lẫn nhau, để khám phá, để thám hiểm bí ẩn của nhau.

Tôi đã nói về Kabir, tôi đã nói về Farid, tôi đã nói về Nanak, về Phật, về Mahavira và về hàng trăm đàn ông chứng ngộ khác. Điều đó cũng có chút ít đơn điệu. Hôm nay tôi giới thiệu về một thanh điệu khác. Thanh thứ nhất bây giờ đã chuẩn bị xong cho bạn để hiểu thanh thứ hai này… bởi vì ngay chỗ đầu tiên một hiện tượng hiếm hoi xảy ra: bất kì khi nào đàn ông đạt tới bậc thang cuối cùng của chứng ngộ, anh ta trở thành giống đàn bà, anh ta trở thành nữ tính. Đây là điều Dadu đã nói: “Người yêu đã trở thành người được yêu.” Người đàn ông đã là người yêu nay trở thành người được yêu. Và Farid, một nhà huyền môn khác, viết cho bản thân mình, “Chị ơi, nếu chỉ có niềm khát khao về người đích thực còn lại trong chị thế thì người yêu ở không xa đâu.”

Nếu bạn hiểu cuộc sống của Phật bạn sẽ thấy nữ tính mà hiếm khi tìm được. Chỉ trong những người đàn bà đã tiến hoá ở mức độ cao nào đó bạn mới thấy cùng duyên dáng tinh tế và cảm giác âu yếm. Bạn có thể gọi nó là từ bi, nhưng nếu bạn nhìn sâu bạn sẽ thấy rằng từ bi này – trong Mahavira bạn sẽ thấy như không bạo hành – chính là cái bóng của cái mới, của người đàn bà được sinh ra bên trong Phật. Bất kì khi nào đàn ông trở nên chứng ngộ bạn bỗng nhiên sẽ thấy sự dịu dàng rất nữ tính choàng xuống người đó.

Tất cả những phẩm hạnh mà Farid đã nói tới – kiên nhẫn, nhu mì và vân vân – đều là phẩm hạnh nữ tính. Nhu mì là phẩm hạnh nữ tính; nó rất tinh tế. Kiên nhẫn và nhẫn nại là những phẩm hạnh nữ tính. Đàn ông không kiên nhẫn. Đàn ông rất không kiên nhẫn, bao giờ cũng vội vã. Nếu đàn ông phải nuôi trẻ thơ thì chúng sẽ không sống được trong thế giới này; đàn ông không có nhiều kiên nhẫn đến thế. Nếu đàn ông phải mang đứa trẻ trong bụng thì sẽ chỉ toàn có phá thai và phá thai trên thế giới này; không anh đàn ông nào chịu mang đứa bé trong bụng cả. Ai có thể chờ đợi được chín tháng? Đàn ông luôn vội vã, anh ta nhanh nhảu, anh ta rất ý thức tới thời gian. Đàn bà sống trong vô hạn, đàn ông sống trong thời gian.

Có lần tôi là khách tại nhà Mulla Nasruddin. Chúng tôi ngồi đấy tán gẫu sau giấc ngủ trưa, ngồi trên giường, vợ anh ấy vào và nói, “Này anh yêu, anh trông con nhé. Em phải tới bác sĩ nha khoa. Em sẽ quay lại sau khi đã nhổ răng xong.”

Mulla nhảy phắt dậy, mặc quần áo và nói, “Đợi đã, em yêu! Em trông con còn anh sẽ đi và nhổ răng ra cho!”

Trông trẻ chán làm sao! Đàn ông không có nhiều kiên nhẫn. Nuôi nấng một đứa trẻ là rất khó; phải mất hai mươi, hai mươi lăm năm đứa trẻ mới đứng được trên đôi chân của mình. Kiên nhẫn là dễ dàng với đàn bà; nó là kỉ luật đối với đàn ông. Đó là lí do tại sao Farid nói thực hành kiên nhẫn. Nhưng tâm trí nữ tính sẽ nghĩ, “Có gì mà phải thực hành?”

Tôi sẽ làm sáng tỏ khác biệt này cho bạn. Tâm trí nữ tính sẽ nghĩ, “Sao thực hành kiên nhẫn? Chúng ta đã kiên nhẫn rồi!” Farid nói thực hành nhu mì. Đàn bà cảm thấy rằng nếu không có nhu mì trong mình thế thì tất cả đều bị mất. Nhu mì là bản tính của đàn bà. Nếu đàn bà định thực hành điều gì đó, cô ấy sẽ phải thực hành trơ tráo. Nhu mì tự nhiên tới với cô ấy. Nhu mì thuộc về đàn bà như lá thuộc về cây vậy.

Thật khó để mà tìm ra một đàn ông nhu mì. Cũng khó để mà tìm ra một đàn bà trơ tráo. Và nếu như đàn bà làm mất đi cái nhu mì của mình thì họ làm mất nó qua ảnh hưởng của đàn ông. Nếu đàn ông trở thành nhu mì thì điều đó xảy ra qua ảnh hưởng của đàn bà. Điều mà đàn ông đạt được qua khắc khổ thì đàn bà đã có sẵn từ khi sinh. Cũng có những phẩm chất mà đàn ông có từ khi sinh mà đàn bà thì lại không có.

Nếu đàn bà muốn trở thành người lính, cô ấy phải trải qua huấn luyện gian khổ, nhưng để trở thành ni cô thì cô ấy chẳng cần nỗ lực gì. Nếu đàn bà phải tham gia chiến tranh thế thì cô ấy phải chuẩn bị rất nhiều cho điều đó, cô ấy phải trải qua nhiều huấn luyện lắm, nhưng nếu cô ấy vào đền cầu nguyện, tôn thờ, cúng dường, cô ấy chẳng cần học từ ai khác. Đưa một bé gái vào đền và bạn sẽ thấy: cứ dường như là cô ấy biết ngay từ khi sinh cách cúi lạy. Nhưng nếu bạn đưa một cậu bé vào bạn sẽ thấy rằng nó không biết cúi lạy cho dù bạn bắt buộc nó. Cúi lạy không hấp dẫn nó. Nó thích làm cho người khác cúi lạy nó nhưng nó không muốn cúi lạy bất kì ai.

Với đàn ông, vật lộn là tự nhiên, tranh đấu là tự nhiên. Đàn ông chỉ biết mỗi một cách chiến thắng: qua tranh đấu. Đàn bà biết cách khác để thắng: qua buông xuôi. Đàn ông có thể bị bại ngay cả khi anh ta thắng, đàn bà thắng ngay cả qua thất bại của cô ta. Đấy là khác biệt giữa họ – và đó là cái đẹp. Họ đi vào các chiều hướng đối lập, vậy mà vẫn có hài hoà lớn giữa cả hai. Bởi vì đàn ông thua bởi thắng và đàn bà thắng bởi thua, nên điều này tạo ra hài hoà giữa cả hai. Các mặt đối lập gặp nhau, chúng khớp với nhau.

Hoa đặc tính nữ nở trong đàn ông khi anh ta đạt tới gần chứng ngộ. Và khi đàn bà đạt tới gần chứng ngộ, hoa đặc tính nam nở trong cô ấy. Sẽ tốt cho bạn để hiểu điều này một chút.

Trước đây tôi đã nói điều đó nay tôi nhắc lại lần nữa: rằng trong hai mươi bốn tirthankara của người Jaina, một người là đàn bà. Tên bà ấy là Mallibai, nhưng người digambaras đã đổi tên bà ấy là Mallinath bởi vì họ đơn giản không thể chấp nhận rằng đàn bà có thể trở nên chứng ngộ; họ nói rằng không thể có chứng ngộ trong thân thể của đàn bà được. Cho nên họ không chấp nhận rằng Mallibai là Mallibai – họ gọi bà là Mallinath.

Vấn đề của họ cũng có nghĩa sâu sắc nào đó trong nó. Nghĩa đó là ở chỗ bất kì khi nào một người đàn bà tới gần chứng ngộ, hoa của đặc tính nam sẽ nở trong cô ấy. Và khi một người đàn ông tới gần chứng ngộ, hoa của đặc tính nữ sẽ nở trong anh ta. Tại sao điều này xảy ra? Để hiểu điều này chúng ta sẽ phải hiểu đôi điều về tâm trí con người.

Cả hai đặc tính đều hiện diện trong từng và mọi con người: đàn bà bị ẩn kín bên trong đàn ông và đàn ông bị ẩn kín bên trong đàn bà. Điều này nhất định phải như vậy bởi vì mọi người đều được sinh ra từ cả hai: trong bạn, mẹ bạn đóng góp một nửa và bố bạn đóng góp một nửa. Bạn không thể là chỉ là đàn bà, bạn không thể chỉ là đàn ông; bạn là hợp nhất của đàn ông và đàn bà. Cả hai đã gặp gỡ nhau và từ gặp gỡ đó bạn được tạo ra; cho nên trong bạn một nửa sẽ là đàn bà và một nửa sẽ là đàn ông.

Thế thì đâu là khác biệt giữa đàn ông và đàn bà? Khác biệt chỉ ở chỗ trong đàn ông thì đàn ông ở trên bềmặt, đàn bà bị ẩn kín bên trong; đàn bà sẽ ở sâu bên trong còn đàn ông sẽ ở phần ngoại vi. Trong đàn bà khác biệt là đàn bà sẽ ở trên bề mặt còn đàn ông sẽ ẩn kín bên dưới. Và khi bạn chứng ngộ, khi tâm thức bạn trở về trung tâm im lặng của nó, thế thì cái vẫn ẩn kín bên trong cho tới lúc đó sẽ biểu lộ bản thân nó ra. Cái đã biểu lộ rồi sẽ vẫn có đó, nhưng cái ẩn kín cho tới lúc đó cũng sẽ biểu lộ bản thân nó. Đó là lí do tại sao nhà huyền môn Dadu, đàn ông, nói, “Người yêu trở thành người được yêu.” Trong khoảnh khắc cuối cùng đó, bỗng nhiên bạn thấy rằng bạn vẫn là đàn ông nhưng bây giờ cái gì đó mới đang xảy ra – một cánh cửa mới mở ra bên trong mà từ trước tới giờ vẫn khép kín.

Và một cách tự nhiên, có tươi tắn lớn lao khi cái chưa biểu lộ trước đây nay trở thành biểu lộ. Nhiều bụi bặm đã tích tụ lên cái đã biểu lộ – bạn đã sống với nó, nó đã trở thành một phần sự tồn tại của bạn; tính mới của nó đã bị mất đi. Khi cái ẩn kín đột nhiên trở nên biểu lộ, khi người đàn bà biểu lộ bản thân mình trong người đàn ông, người tới gần khoảnh khắc chứng ngộ, tới gần trung tâm bản thể, người đàn bà sẽ hoàn toàn che phủ người đàn ông. Cho nên các vị phật nam trở thành nữ tính bởi vì nữ tính bao phủ nam tính. Trong người đàn bà chứng ngộ tính chất nam tính lớn lao nảy sinh, người đàn ông ẩn kín đột nhiên biểu lộ.

Đây là điều xảy ra tại gần trung tâm, khi bạn đang ở bước tới chứng ngộ. Điều này không xảy ra tại trung tâm; vẫn còn một bước nữa, một khoảng cách tới trung tâm. Bây giờ bạn không ở ngoại vi nữa nhưng bạn vẫn chưa đạt tới trung tâm; bạn đã tới gần trung tâm hơn. Bạn đã rời bỏ ngoại vi và cái mà trước đây còn ẩn kín thì nay đã trở nên biểu lộ.

Tại trạng thái cuối cùng bạn sẽ không là đàn ông cũng không là đàn bà. Tại trung tâm cả hai sẽ biến mất. Tại đó bạn sẽ chỉ là một mầu – mầu trắng sáng chói. Bạn sẽ không đỏ, bạn sẽ không xanh; tại đó cầu vồng mầu sắc sẽ biến mất. Khi cầu vồng biến mất, thế giới cũng biến mất. Thế thì chỉ cái một là còn lại.

Cái ‘một’ đó thậm chí chúng ta không gọi là một nữa, bởi vì chỉ bởi nói ‘một’, ý tưởng về hai nảy sinh. Chúng ta đã gọi nó là advait, bất nhị – chúng ta chỉ nói rằng nó không phải là hai. Thế thì không đàn bà, không đàn ông. Người Hindu đã rất dũng cảm Họ đã đặt brahman, thực tại tối thượng, vào giống trung – chẳng nam chẳng nữ – bởi vì tại đó, cả hai đều biến mất.

Jesus đã đưa ra một phát biểu rất kì lạ; người Ki tô giáo gặp khó khăn lớn với phát biểu đó. Ông ấy cứ nói đi nói lại nói với các đệ tử, “Các ông có muốn thành hoạn quan cho Thượng đế không?” Người Ki tô giáo thấy khó hiểu điều này – “Nói gì thế này!” Nhưng Jesus là đúng. Đây là điều sẽ xảy ra trong khoảnh khắc cuối: bạn sẽ không là cả hai, bạn sẽ vượt ra ngoài cả hai. Bạn sẽ tự do với cả hai.

Đêm qua tôi đã đọc về kinh sách của người Do Thái, Miderase. Có một phát biểu trong đó nói là: “Torah có hai con đường.” Tôn giáo có hai con đường: một con đường của ánh mặt trời và con đường kia là của tuyết. Nếu bạn theo con đường thứ nhất, bạn sẽ chết vì mặt trời, vì nóng. Nếu bạn theo con đường thứ hai, bạn sẽ chết vì tuyết, vì lạnh. Phải làm gì đây? Miderase nói: bước giữa cả hai. Giữa nghĩa là không đàn ông cũng không đàn bà. Nếu bạn theo con đường của đàn ông, bạn sẽ chết vì nóng, nếu bạn theo con đường của đàn bà, bạn sẽ chết vì lạnh. Thế thì phải làm gì? – bước giữa hai con đường này.

Nhưng biến cố đó – khi người ta trở nên tự do với cả hai – xảy ra tại chính điểm cuối khi tia sáng mặt trời lại trở thành tia sáng mặt trời. Cầu vồng đã tới rồi qua, thế giới biểu lộ rồi tan biến; bạn đã lại tới nguồn gốc, bạn đã đạt tới ngọn nguồn.

Hiểu đôi điều về tâm trí nữ tính đi, thế thì lời của Sahajo sẽ thành dễ hiểu.

Điều thứ nhất: cách diễn đạt của tâm trí nữ tính không phải là cách diễn đạt của thiền mà là của yêu. Đàn bà đạt tới thiền qua yêu. Cô ấy biết tới thiền chỉ qua yêu. Cô ấy được bão hoà với yêu. Với cô ấy, tên của thiền là yêu, là lời cầu nguyện.

Đàn ông có thể sống đơn độc. Trong thực tế, đàn ông muốn sống đơn độc. Bản ngã không muốn có quan hệ bởi vì trong quan hệ bạn phải uốn mình đi một chút, bạn phải bỏ cái ương ngạnh của mình đi một chút. Bạn phải tới bình diện của người kia. Đây là ý nghĩa của tình bằng hữu – rằng chúng ta coi người kia là bình đẳng với mình.

Nhưng ý nghĩa của yêu là ở chỗ chúng ta coi người kia là cao hơn bản thân mình. Cho nên tâm trí tranh đấu của đàn ông không sẵn sàng với tình bằng hữu. Với anh ta, yêu là rất khó – và lời cầu nguyện là không thể được. Lời cầu nguyện có nghĩa là bạn đặt đầu mình dưới chân người khác. Cho dù người đàn ông có cúi đầu xuống, anh ta không làm điều đó một cách toàn tâm, anh ta cúi xuống dưới ép buộc. Anh ta cúi xuống khi không còn cách nào khác, anh ta cúi xuống khi anh ta trở nên bất lực. Anh ta không cúi đầu vì đang mạnh, anh ta cúi đầu vì yếu. Anh ta không cúi đầu khi anh ta thắng lợi mà chỉ cúi khi anh ta thất bại. Anh ta không cảm thấy ân huệ gì từ việc cúi đầu của mình; thay vì thế anh ta cảm thấy rất không thoải mái.

Phương Tây từ song hành với samarpan là ‘đầu hàng’, nhưng nó không truyền đạt cùng cảm giác như samarpan. Từ đầu hàng chỉ ra rằng bạn đã thất bại. Ở phương Tây, đầu hàng có nghĩa là bạn đã bị ai đó đánh bại, người đã buộc bạn phải cúi đầu. Ở phương Đông, samarpan có nghĩa là bạn đã chấp nhận thất bại và đã cúi đầu theo ý bạn, không ai áp đặt điều đó lên bạn. Ngôn ngữ phương Tây chịu ảnh hưởng rất lớn của đàn ông, ngôn ngữ phương Đông chịu ảnh hưởng rất lớn của đàn bà. Cho nên bạn sẽ thấy rằng bất kì cái gì có ý nghĩa trong ngôn ngữ phương Đông đều mang nữ tính. Tất cả các từ cho trìu mến, từ bi, bất bạo hành, lòng tốt, cầu nguyện, tôn thờ đều giống cái. Bất kì cái gì tinh tế, gắn thêm duyên dáng, chúng ta đều cho nó là một từ giống cái; nó hàm chứa một phẩm chất nào đó của đàn bà.

Đàn ông hung hăng, giống chiến binh; đàn bà tiếp nhận, buông xuôi. Với đàn ông, thiền, yoga và thực hành khổ hạnh là dễ dàng; với đàn bà, yêu, cầu nguyện, tôn thờ, cúng dường là dễ dàng. Đàn ông coi các từ trừu tượng là rất quan trọng, các từ không có thật, các từ mơ hồ, không phải là các từ thực mà có thể giữ trong tay. Không, anh ta nói về cái xa xôi, anh ta nói về bầu trời.

Đàn bà thực tế hơn, cô ấy nói về cái gần, cô ấy nói về hàng xóm. Nghe chuyện của đàn bà đi: họ nói về điều đang xảy ra ở nhà hàng xóm. Nghe chuyện của đàn ông đi – điều đang xảy ra ở Việt Nam, điều đang xảy ra ở Israel. Điều này chẳng hẫp dẫn gì với đàn bà: “Sao phải nói về những điều xa xôi thế? Chúng ta chẳng liên quan gì với những điều ấy cả.” Đàn ông không quan tâm đến việc biết vợ hàng xóm đã đi theo ai đó. “Để làm quái gì?” anh ta nói. “Chẳng quan trọng gì cả. Đây là điều vẫn thường xảy ra ở nhà hàng xóm đấy thôi. Điều có ý nghĩa đang xảy ra ở Israel, ở Mĩ, ở Việt Nam.”

Có cả một thế giới, một trái đất lớn thế – nhưng tâm trí đàn ông vẫn không thoả mãn với điều này. Anh ta nói về việc lên mặt trăng, lên sao Hoả. Đàn bà bao giờ cũng tự hỏi, “Anh định làm gì sau khi lên tới mặt trăng, sau khi lên tới sao Hoả? Tốt hơn cả là anh đi dọn vườn đi. Cỏ đã mọc đầy rồi, ra đấy cắt cỏ đi. Nhà bẩn quá, lau nhà đi. Anh làm gì trên mặt trăng nào?” Đàn bà chẳng quan tâm gì đến nơi xa xa, cái xa xôi. Cô ấy muốn những thứ cận kề – cô ấy là người mẹ, cô ấy là vợ và cô ấy là đất. Mối quan tâm của cô ấy là ở những thứ gần gũi hơn, gần gần, thực tế.

Có nhiều khác biệt giữa loài người, và có nhiều khác biệt giữa đàn ông và đàn bà. Đàn ông nói, “đất mẹ”; đàn bà nói, “nhà tôi”. Đàn ông nói, “nhân loại”; đàn bà nói, “con tôi, chồng tôi, anh tôi.”

Biên giới của đàn bà là trong gia đình. Đàn bà giống như cây nến nhỏ chiếu sáng một vùng nhỏ xung quanh. Ánh sáng dành cho gia đình. Đàn ông giống như đèn pin: anh ta không toả ánh sáng xung quanh mình, tia sáng của anh ta vượt ra xa xôi, anh ta khắc khoải để thấy những thứ xa xôi.

Đàn ông nhìn vào nơi xa, đàn bà chỉ nhìn quanh cô ấy. Điều này có nghĩa là khi đàn ông nói về Thượng đế, đàn bà nói về thầy – vì Thượng đế rất xa xôi, thầy rất gần gũi. Có thể Thượng đế chỉ là một giả thuyết, một khái niệm, một từ. Đã ai biết tới ngài chưa? Đã ai thấy ngài chưa? Nhưng thầy thì rất thật – tay bạn có thể ôm chân thầy. Làm sao bạn có thể ôm chân Thượng đế được? Với đàn bà, thầy thậm chí còn trở thành quan trọng hơn Thượng đế.

Upanishad nói: “Thượng đế xa hơn cái xa nhất, gần hơn cái gần nhất.” Tôi muốn thêm vào điều này: với đàn ông, Thượng đế xa hơn cái xa nhất; với đàn bà Thượng đế gần hơn cái gần nhất.

Đó là lí do tại sao đàn ông cười đàn bàn vì cứ giữ khư khư bức tượng Krishna. Cô ấy trang điểm cho nó, đặt đồ trang sức lên nó, đặt vương miện lông công lên nó. Nước mắt lăn dài từ đôi mắt cô ấy và cô ấy nhảy múa trong cực lạc – còn đàn ông cười cô ấy khi cô ấy nhảy múa trong cực lạc. Đàn ông đi vào rừng, bỏ trốn và từ bỏ mọi thứ. Anh ta ngồi trước ngọn lửa thiêng liêng, ngồi tự hào và thẳng tắp dưới gốc cây. Đàn bà cảm thấy rằng anh ta đã phát điên! Điều cả hai cảm thấy đều là tự nhiên, bởi vì cách thức, chiều hướng của cả hai là khác nhau. Đây là lí do tại sao tôi nói rằng đây sẽ là cuộc hành trình mới.

Sahajo không phải là người đàn bà duy nhất tôi sẽ nói tới, nhưng tôi bắt đầu với cô ấy bởi vì trong cô ấy, nữ tính đã xuất hiện dưới dạng rất tinh tế.

Phật đạt tới chân lí và ông ấy không sẵn sàng khai tâm cho đàn bà. Ông ấy đã chứng nghiệm chân lí, chẳng thiếu cái gì, ông ấy biết rằng chúng ta không phải đàn ông cũng chẳng đàn bà – vậy mà phân biệt vẫn cứ còn. Bên ngoài, phân biệt vẫn có đấy. Khi đàn bà xin phép ông ấy cho khai tâm, ông ấy ngần ngại. Đây là ngần ngại của chiếc dây đã cháy: bây giờ nó không còn nữa nhưng hình dạng cũ vẫn còn.

Ông ấy ngần ngại trong chốc lát: “Nếu ta khai tâm cho đàn bà thì sẽ có rắc rối.” Suy nghĩ về rắc rối này tới với Phật vì ông ấy vẫn tiếp tục có kí ức của một người đàn ông. Cái dây đã cháy hết, nhưng dấu vết của hình dạng của nó vẫn còn để lại sau. Ông ấy biết rằng sau khi khai tâm đàn bà, đàn ông và đàn bà sẽ gặp gỡ và rắc rối sẽ nảy sinh.

Nếu một sư ốm và một ni cô xoa đầu, xoa chân cho… thì trong việc xoa bóp đó – chân, đầu – cảm giác yêu đương với người đàn bà đó sẽ phát sinh. Có lẽ cô ấy sẽ thậm chí không nhận ra rằng điều đó sẽ gợi nên một cảm giác. Cô ấy có thể thậm chí không có ý nghĩ về nó, điều đó có thể không là ý định của cô ấy, nhưng điều đó chẳng thành vấn đề – cảm giác yêu đương sẽ nảy sinh. Sư này sẽ cảm thấy âu yếm với người đàn bà này, người đàn bà này sẽ bắt đầu xuất hiện trong giấc mơ của anh ta. Đôi khi sư này có thể giả vờ cho dù là anh ta chẳng đau đầu gì cả nhưng chỉ để cảm thấy cái động chạm của đôi bàn tay mềm mại của cô ấy. Dần dần, khao khát này sẽ bắt đầu đi sâu hơn.

Cho nên Phật trở nên sợ hãi. Ai là cái trở thành sợ hãi? – đấy là người đàn ông trong ông ấy, người ấy trở nên sợ hãi, người đã vượt ra ngoài hình dạng nhưng đám tro tàn vẫn còn tồn tại. Nhưng bởi vì biết bao nhiêu đàn bà yêu cầu, nên Phật đã đồng ý. Ông ấy đã đồng ý, nhưng ông ấy đồng ý rất miễn cưỡng. Ông ấy nói, “Tôn giáo của ta sẽ kéo dài trong nhiều nghìn năm, nhưng bây giờ nó sẽ không kéo dài hơn năm trăm năm bởi vì bất kì khi nào đàn ông và đàn bà ở cùng nhau, gia đình sẽ được tạo ra.”

Và tính chất sannyas của Phật là sannyas của đàn ông: nó chống lại gia đình. Chính tính chất sannyas là người đi vào trong rừng rậm. Phật nói rằng bất kì khi nào có một người đàn bà, chẳng mấy chốc mà cô ấy tạo ra một gia đình. Các nhà khoa học nói rằng nếu chỉ có đàn ông được vào thế giới này, sẽ không có nhà ở; nhiều nhất chỉ có lều mà thôi. Người ta sẽ du hành với lều của mình như dân gypsy, dân du cư. Đàn ông không thích làm nhà chút nào. Họ không thích định cư tại một chỗ. Tâm trí nam tính rất bồn chồn: nó nói, “Đi xem thế giới xem sao – đi đây, đi đó.”

Đàn bà đơn giản không thể nào hiểu được sự bất ổn và lang thang này. Chính an bình trong nhà mà người ta mới có thể ngồi im lặng. Nhưng anh ta không thể nào thảnh thơi được. Anh ta phải tới câu lạc bộ Rotary, tới câu lạc bộ Lions, tới câu lạc bộ Pune. Ngay cả khi anh ta về nhà sau công việc hàng ngày, hoàn toàn mệt mỏi, anh ta vẫn nói, “Bây giờ mình sẽ tới câu lạc bộ để thảnh thơi.” Ngay khi cửa hàng đóng cửa là anh ta phải tới câu lạc bộ. Sau câu lạc bộ anh ta phải tới dự tiệc. Sau bữa tiệc anh ta phải xoay sang chính trị. Sau chính trị, lại đến cái gì đó này khác, anh ta cần cái gì đó này khác. Đàn bà lúng túng để hiểu tại sao đàn ông lại không thể nào ngồi im lặng được ở nhà. Nhưng đấy không phải là phẩm chất của đàn ông.

Gia đình do đàn bà tạo nên. Đó là lí do tại sao trong gia đình người Hin du, người vợ, người đàn bà sống ở nhà, được gọi là gharwali. Không ai gọi người đàn ông đã có gia đình, người đàn ông sống ở nhà, là gharwala cả – và người ấy không có. Từ đó không thích hợp cho anh ta. Đàn bà ở nhà và đàn ông bị buộc vào cái cọc đó. Anh ấy nhà bởi vì tình yêu, bằng không anh ấy sẽ chỉ vẩn vơ đâu đó loanh quanh.

Toàn bộ nền văn minh dựa trên đàn bà, vì nếu không có nhà cửa cũng chẳng có thành phố. Nếu không có thành phố nền văn minh sẽ mất. Đàn ông có thể là gypsy, kẻ vô gia cư, nhiều nhất thì cũng chỉ là Baluchi; anh ta có thể là một người không điên khùng như Baluchi. Đó là lí do tại sao bạn lại có thể thấy rằng đàn bà Baluchi đã có được phẩm cách đàn ông, rằng một đàn bà Baluchi còn mạnh mẽ hơn cả đàn ông của chúng ta. Nếu cô ấy nắm bạn trong tay thì đừng hòng thoát! Cô ấy tự nhiên có khả năng tụ hội tính cách nam giới vì cô ấy đi đây đó với chồng như một kẻ vô gia cư. Ngày nào họ cũng đi: nay đây, mai đó, ngày nọ tiếp ngày kia ở đâu đó khác. Bởi sự vất vả này mà đàn bà Baluchi đã trở nên mạnh mẽ. Đàn ông của chúng ta trở nên yếu đi bởi vì họ bị gắn với gia đình, họ đã trở thành giống như đàn bà. Đàn bà Baluchi đã trở thành giống như đàn ông. Kiểu sống của bạn có tác động; nó đào luyện bạn.

Đàn ông và đàn bà là hai chiều hướng. Và nếu bạn hiểu khác biệt của họ một cách sâu sắc, bạn sẽ thấy rằng điều Sahajo đang nói trở thành rõ ràng. Đừng cố gắng hiểu bằng cách tiếp cận nam giới. Quên bạn là ai đi, nếu không thì niềm tin của bạn sẽ trở thành cản trở.

Đàn ông, ngay cả khi anh ta cầu nguyện Thượng đế, anh ta sẽ nói, “Xin giải phóng con khỏi bản ngã” – vì với đàn ông thì bản ngã là mối phiền não của mình. Đàn bà sẽ nói, “Xin giải phóng con khỏi gắn bó.” Bản ngã không phải là phiền não cho đàn bà, gắn bó mới là phiền não của cô ấy – con tôi, chồng tôi, nhà tôi, quần áo của tôi, đồ trang sức của tôi – cảm giác về cái của tôi đó. Với đàn bà, bản ngã không phải là bệnh tật thực, cái của tôi, cái gắn bó, mới là bệnh tật. Với đàn ông, cái ‘tôi’ còn với đàn bà đấy là cái ‘của tôi’.

Nếu cái ‘của tôi’ được bỏ ra khỏi đàn bà, cái ‘tôi’ của cô ấy sẽ bị loại bỏ; nếu cái ‘tôi’ của đàn ông bị loại bỏ, cái ‘của tôi’ của anh ấy cũng được bỏ đi theo. Cho nên chừng nào đàn ông còn chưa thoát khỏi bản ngã, anh ta không thể nào thoát khỏi gắn bó. Chừng nào đàn bà còn chưa thoát khỏi gắn bó, cô ấy không thể nào thoát khỏi bản ngã. Cho nên phát biểu này là rất rõ ràng và đơn giản, “Thầy tôi chặt đứt dây xích gắn bó.” Thầy đã trao cho việc hiểu biết dần dần. Thầy đã thức tỉnh hiểu biết dần dần rằng không ai là ‘của tôi’. ‘Của tôi’ là ảo tưởng, ‘của tôi’ là mơ, ‘của tôi’ chỉ là những con sóng dậy lên trong tâm trí, nó không phải là thực tại. Chúng ta được sinh ra đơn độc – không có cái ‘của tôi’ đi kèm với mình. Chúng ta chết đi đơn độc – không có cái ‘của tôi’ đi cùng với mình. Chính ý tưởng về ‘của tôi’ là thế giới này.

 

Bạn đã từng bao giờ quan sát điều đó chưa? – chỉ khi bạn ốm ham muốn mới nổi lên trong bạn để được mạnh khoẻ. Khi bạn mạnh khoẻ, bạn chẳng cảm thấy ốm yếu hay mạnh khoẻ gì. Bạn có thể cảm thấy mạnh khoẻ được không? Bạn cảm thấy cái đầu khi bạn đau đầu; khi không đau đầu bạn có cảm thấy cái đầu bạn không? Bạn đã bao giờ cảm thấy rằng đầu bạn hoàn toàn mạnh khoẻ không? Khi đầu bạn hoàn toàn mạnh khoẻ, bạn chẳng cảm thấy nó, vậy làm sao bạn có thể biết được nó mạnh khoẻ?

Trong tiếng Phạn từ nói về đau là vedana. Từ ‘vedana’ này là rất quan trọng. Nó có hai nghĩa: một nghĩa là cái đau và nghĩa kia là việc biết. Từ veda cũng bắt nguồn từ cùng một gốc; từ vid, vidwan, học giả, cũng có cùng gốc này. Một nghĩa của vedana là biết, nghĩa kia là đau. Bạn chỉ nhận biết về đau, nhưng bạn có bao giờ để đến hạnh phúc không? Đây là lí do tại sao từ này giá trị đến thế. Khi đầu bạn đau, bạn nhận biết về đầu bạn; khi bạn bị gai đâm chân bạn nhận biết về chân bạn. Khi có phiền não trong cuộc sống bạn trở nên nhận biết về cuộc sống. Nếu tất cả đau đớn đều biến mất và không có phiền não chút nào, thế thì bạn sẽ nhận biết về cái gì?

Trạng thái mạnh khoẻ hoàn toàn của thân thể được gọi là videha, vô thân thể. Thế thì bạn không cảm thấy thân thể chút nào. Trẻ nhỏ không cảm thấy thân thể, chúng không biết rằng thân thể có đó. Dần dần khi vấn đề bắt đầu nảy sinh, nhận biết về thân thể mới bắt đầu. Người già nhận biết về thân thể mình. Ông ấy chỉ nhận biết về thân thể mình – khi ông ấy thức dậy ông ấy cảm thấy nó, khi ông ấy ngồi xuống, ông ấy cảm thấy nó, khi ông ấy ăn, ông ấy cảm thấy nó, khi ông ấy tắm, ông ấy cảm thấy nó, khi ông ấy thở, ông ấy cảm thấy nó. Khi ai đó nói với ông ấy, ông ấy cảm thấy nó bởi vì tai ông ấy không nghe rõ. Khi ai đó tới trước mặt ông ấy, ông ấy cảm thấy nó bởi vì mắt ông ấy không thấy rõ. Người già chỉ cảm thấy thân thể. Trẻ con không nhận biết về thân thể chút nào; không có nhận biết về khoẻ mạnh. Cảm nhận này về thân thể, việc biết này về thân thể, là một loại ốm yếu nữa. Cảm nhận này là một phần của ốm yếu bởi vì đau đớn và hiểu biết là hai mặt của cùng một đồng tiền.

Trong lịch sử loài người các thầy vĩ đại nhất đều là đàn ông còn các đệ tử vĩ đại nhất đều là đàn bà. Khó mà tìm ra các thầy như Mahavira, Phật, Charandas, Farid hay Kabir trong đàn bà. Cũng khó mà tìm ra các đệ tử như Sahajo, Meera, Daya, Rabiya, Theresa trong số đàn ông…

Mọi người hay hỏi tôi nhiều lần, “Có biết bao thầy trên thế giới này, tại sao không có thầy phụ nữ nổi tiếng nào? Biết bao nhiêu đàn ông đã trở thành người sáng lập ra các tôn giáo, nhưng không có đàn bà nào là người sáng lập tôn giáo. Có biết bao nhiêu là kinh sách – Koran, Kinh thánh, Gita – và tất cả những kinh sách này đều do đàn ông thốt ra, không đàn bà nào thốt ra điều gì giống như thế này.” Câu hỏi này là có liên quan: người ta tự hỏi tại sao điều này xảy ra. Nhưng bởi vì điều đó đã xảy ra nên phải có lí do sâu xa nào đó đằng sau nó.

Đàn ông có thể dễ dàng là thầy, nhưng là đệ tử là điều khó cho anh ta vì để là đệ tử người ta phải khiêm tốn. Khiêm tốn là điều khó cho đàn ông. Anh ta gặp rắc rối lớn để khiêm tốn. Anh ta có thể thiền, nhưng trong việc thiền anh ta không đầu hàng bản ngã, anh ta phá huỷ bản ngã.

Hiểu điều này theo cách khác: với đàn ông khó buông xuôi bản ngã mình, nhưng tiêu diệt nó không khó. Đàn ông nói, “Ta sẽ giết chết bản ngã.” Đó là lí do tại sao đàn ông nói, “Ta sẽ chết, nhưng ta sẽ không đầu hàng. Ta có thể bị đập vỡ, nhưng ta sẽ không đầu hàng.”Anh ta giết chết bản ngã mình. Anh ta khơi dậy nên ngọn lửa thiền và đốt cháy bản ngã mình, nhưng anh ta không khúm núm dưới chân ai đó. Một Mahavira và một Phật, họ giết chết bản ngã, họ thiêu cháy nó, và theo cách đó họ trở thành vô ngã.

Cho nên vô ngã có hai dạng: một cách là thiêu cháy bản ngã – đó là vô ngã của Phật, của Mahavira, vô ngã của đàn ông; và cách nữa là buông xuôi bản ngã – vô ngã của Sahajo, Faya, Meera. Và nhớ lấy, vô ngã của đàn ông là trống rỗng hoàn toàn; vô ngã của đàn bà là rất tràn đầy. Bình chứa của đàn ông sẽ thành trống rỗng khi anh ta trở thành vô ngã; bình chứa của đàn bà sẽ đầy hoàn toàn khi cô ấy trở thành vô ngã vì cô ấy chẳng phá huỷ cái gì. Cô ấy đã sử dụng bản ngã. Cô ấy đã buông xuôi bản ngã, không phá huỷ nó. Cô ấy đã dùng nó, cô ấy đã biến nó thành phương tiện.

Đàn bà ở nhà với buông xuôi: đây là lí do tại sao đã từng có những đệ tử đàn bà vĩ đại, những đàn bà sùng kính vĩ đại. Đỉnh cao của mối quan hệ thầy – đệ tử được đạt tới ở đàn bà, nhưng đỉnh cao chung cuộc là thầy không thể có được cho họ. Điều này được thể hiện bởi sự kiện là trong số bốn mươi nghìn sannyasin của Mahavira, ba mươi nghìn người là đàn bà. Và điều này bao giờ cũng xảy ra theo tỉ lệ đó. Cứ bốn người tới tôi, ba là đàn bà và một là đàn ông. Điều này bao giờ cũng theo tỉ lệ đó.

Khi đàn bà tới, tôi thấy rằng họ lập tức hoà hợp với tôi – ngay lập tức! Trong trường hợp của đàn ông, phải mất một thời gian nào đó cho họ hoà hợp với tôi. Phải mất một lúc trước khi sự hài hoà được thiết lập, phải mất chút thời gian. Có xô đẩy nào đó: anh ta cố gắng chút xíu để không buông xuôi, anh ta giữ tự hào nào đó, anh ta không cởi mở lòng mình hoàn toàn – anh ta cố gắng bảo vệ bản ngã.

Khi đàn ông tới tôi, cho dù họ muốn hỏi câu hỏi riêng của họ, họ vẫn nói, “Tôi có một người bạn. Tâm trí anh ta bị căng thẳng, bất ổn, anh ta không thể nào ngủ được ban đêm. Liệu có cách chữa trị nào không?”

Đàn ông sợ ngay cả việc phơi bầy cái ốm yếu của mình bởi vì để khiêm nhường – để nó rằng tôi không thể ngủ được, tôi phải tới học điều gì đó ở bạn – ngay cả đến điều này họ thấy khó khăn.

Khi đàn bà tới, họ thậm chí không nói rằng họ có vấn đề, không thoải mái; nước mắt đơn giản bắt đầu tuôn dài trên mắt họ, toàn bộ thân thể họ bắt đầu run rẩy. Họ chẳng cần nói rằng họ đang phiền não, điều đó tự lộ ra.

Khi Koran giáng xuống Mohammed, ông ấy đang trên núi, đơn độc. Ông ấy nghe thấy một tiếng nói và tiếng nói đó nói, “Đọc đi!” Ông ấy bắt đầu sợ hãi. Ông ấy nói, “Tôi không biết cách đọc.”

Lần nữa tiếng nói lại đưa tới: “Đừng lo, chỉ đọc thôi!”

Nghĩa của từ ‘koran’ là đọc. Cho nên Mohammed đọc. Ông ấy nhắm mắt và bắt đầu đọc. Có một cuốn sách vô hình ngay trước mắt ông ấy và ông ấy bắt đầu đọc nó. Đây là cách thức mà ayats đầu tiên của Koran giáng xuống. Ông ấy trở nên sợ hãi đến mức ông ấy chẳng thể nào hiểu điều gì mới xảy ra. Ông ấy không thể nào hiểu nổi. Ông ấy không thể tin vào chính mình và ông ấy không thể nào tin vào điều đã xảy ra. Ông ấy không thể tin rằng có Thượng đế – ai đó đang khải lộ chân lí của cuộc sống. Ông ấy chạy về nhà trong cơn sốt. Ông ấy nằm vật ra giường và trùm chăn kín mít. Vợ ông ấy, Ayesha, hỏi ông ấy, “Có chuyện gì vậy?” Thế là ông ấy kể lại cho vợ tất cả những điều đã xảy ra cho mình. Vợ ông ấy trở thành đệ tử đầu tiên của ông ấy – cô ấy lập tức cúi đầu xuống dưới chân ông ấy.

Cô ấy nói, “Không có gì hoài nghi ở đó cả. Đây là một biến cố trọng đại! Đừng sợ.” Tin cậy của cô ấy đem tới tin cậy cho Mohammed. Cô ấy chạm chân ông ấy, và vào ngay chính lúc đó cô ấy trở thành đệ tử.

Đệ tử đầu tiên của Mohammed là đàn bà, không phải đàn ông. Và bản thân Mohammed đã không tin vào điều mới xảy ra. Nhưng đàn bà tin ngay, và với hỗ trợ của cô ấy, ông ấy cũng tin luôn, ông ấy thu được dũng cảm. Vợ ông ấy dần dần đã thuyết phục ông ấy đừng sợ và đi nói điều đó cho những người khác. Điều đã xảy ra là duy nhất, nó không nên bị giữ kín: “Thượng đế đã chọn ông ấy làm sứ giả, paigambara.” Mohammed không phải là người hồi giáo đầu tiên; người hồi giáo đầu tiên là vợ ông ấy.

Điều này cũng xảy ra với Jesus. Khi Jesus bị đóng đinh, tất cả đàn ông đều bỏ chạy – bởi vì vào khoảnh khắc chết đó, chỉ tình yêu có thể còn lại với bạn, và tri thức không còn lại. Khi cái chết tới, chỉ những ai có mối quan hệ qua trái tim mới có thể ở lại với bạn. Nhưng người có quan hệ qua đầu óc sẽ nói, “Bây giờ còn ích gì nữa? Chạy và cứu mạng mình thôi!” Họ đã ở với Jesus chỉ vì lợi ích riêng của họ. Bây giờ khi mạng sống của riêng họ bị nguy hiểm, vậy còn ích gì mà ở lại với ông ấy? Tất cả đàn ông đều cao chạy xa bay, đàn bà còn lại.

Đàn bà có thể trở thành người sùng kính, đệ tử tối thượng; điều đó là dễ dàng cho họ. Đừng nghĩ rằng đàn ông có phẩm chất gì đó đặc biệt và bởi vì điều đó mà họ có thể trở thành thầy. Là đệ tử cũng vĩ đại như là thầy vậy. Hoàn toàn là đệ tử là đạt tới cùng chiều cao mà người ta đạt tới bằng cách hoàn toàn trở thành thầy. Những người đạt tới qua thiền có thể trở thành thầy; những người đi trên con đường yêu có thể trở thành đệ tử, người sùng kính. Thầy là người có thể chỉ ra con đường cho người khác, người có thể dạy về con đường.

Hiểu điều này đi: yêu không thể nào dạy được, nhưng thiền thì có thể. Cho nên người đã đạt tới chân lí thông qua thiền cũng có thể chỉ ra rằng đây là con đường: cắt bỏ bản ngã theo cách này cách nọ – con đường này – và dần dần nó sẽ bị loại bỏ và bạn sẽ tự do. Kinh sách có thể được tạo ra từ thiền; thiền là kĩ thuật. Không thể có kinh sách về yêu bởi vì yêu không phải là kĩ thuật. Nếu yêu xảy ra, nó xảy ra; nếu nó không xảy ra, nó không xảy ra. Người ta thu được gì bằng việc thử yêu?

Cho nên nếu tia sáng yêu nảy sinh bên trong bạn, đừng kìm nén nó. Thế thì bạn chẳng cần gì đến thiền, yêu sẽ chăm lo mọi điều. Nếu tia sáng của yêu không nảy sinh và bạn là sa mạc cằn cỗi nơi không hạt mầm yêu nào nảy nở, nơi việc nảy mầm không xảy ra, thế thì chọn thiền – thế thì không có cách nào để giải thoát cho bạn ngoại trừ qua thiền.

Những người đã trải qua thiền có thể trở thành thầy; những người đã trải qua yêu đạt tới mọi điều trong mối quan hệ thầy-đệ tử của mình. Và những người đã đạt tới qua yêu, họ không thể nào dạy cho người khác được. Đấy không phải là vấn đề dạy – nó đơn giản không phải là một thứ có thể được dạy. Yêu không phải là nghệ thuật, yêu là hương thơm cốt lõi nhất của cuộc sống. Những người dũng cảm đi tới nó trong một khoảnh khắc bởi vì đấy không phải là vấn đề học hỏi, đấy là vấn đề chìm ngập.

Dường như ai đó bơi trên sông: việc bơi có thể được dạy – nhưng bạn có thể dạy ai đó cách chìm không? Đâu là nhu cầu để dạy chìm? Ai đó muốn chìm, có thể chìm ngay bây giờ. Liệu bạn có nói được rằng trước hết trong một năm bạn sẽ học cách chìm rồi bạn sẽ chìm không? Nếu bạn thử học cách chìm trong một năm thế thì bạn sẽ chẳng bao giờ chìm cả, bởi vì bằng việc học cách chìm bạn sẽ phải học bơi nữa. Chìm có thể xảy ra ngay bây giờ còn bơi thì phải mất cả năm trời để học

Thiền giống như bơi vậy – người ta phải học nó. Yêu giống như chìm vậy. Làm tan biến bản ngã bạn cần có thời gian. Buông xuôi bản ngã – bạn có thể buông xuôi ngay bây giờ. Bản ngã có đó: chỉ là vấn đề buông xuôi nó. Tâm trí nữ tính dễ dàng buông xuôi. Đàn bà giống như cây leo bám lên cây cối: với họ linh động là dễ dàng và tự nhiên. Với cây lớn rất khó uốn cong, với cây leo, uốn éo phỏng có vấn đề gì?

 

Nguồn thienosho.com

https://www.thienosho.com/2018/10/chuong-2-con-uong-cua-yeu-va-thien.html

 

“Xin thầy nói về sự khác nhau giữa đàn ông và phụ nữ?”
Đa số sự khác nhau giữa đàn ông và phụ nữ đã có hàng ngàn năm. Những điểm khác nhau này không đóng vai trò quan trọng trong thiên nhiên nhưng tồn tại một số điểm khác biệt mang lại cho chúng vẻ đẹp duy nhất và cá tính. Ta có thể đếm một cách dễ dàng.
Một trong số các bí ẩn đó là phụ nữ, khác với đàn ông, có thể mang lại sự bắt đầu của một cuộc đời mới. Theo ý nghĩa này, đàn ông có vị trí phụ thuộc và sự phụ thuộc này đóng vai trò quan trọng trong sự khống chế của đàn ông đối với phụ nữ. Toàn bộ yếu điểm này được thể hiện theo cách sau: đàn ông cố gắng giành sự vượt trội của mình, tự lừa dối mình và thiên hạ. Đàn ông hàng thế kỷ đè nén thiên tài và những khả năng của phụ nữ để chứng minh cho mình và cho thiên hạ rằng đàn ông vượt trội phụ nữ.
Chính vì phụ nữ mang thai và sinh con trong chín tháng, họ dễ bị tổn thương và cần sự bảo vệ của đàn ông. Còn đàn ông tận dụng điều này một cách xấu xa nhất. Nhưng sự khác nhau ở đây chỉ về mặt sinh lý, hoàn toàn không phải là sự khác nhau cơ bản…
Dù sao, sự khác nhau thực sự giữa đàn ông và phụ nữ là có thật và chúng ta cần đi tìm trong vô vàn những sự khác biệt. Một trong số đó, theo tôi, là ở chỗ phụ nữ có tình cảm sâu sắc hơn đàn ông. Tình yêu của đàn ông, khác với tình yêu của phụ nữ, chỉ để thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Tình yêu của phụ nữ mạnh hơn, cao hơn và đầy ắp tình cảm. Điều này giải thích tại sao phụ nữ một chồng còn đàn ông đa thê. Đàn ông muốn có tất cả phụ nữ trên đời, mà cũng chưa thỏa mãn. Sự không mãn nguyện của đàn ông không có giới hạn. Phụ nữ có thể hạnh phúc và thỏa mãn với một người đàn ông, vì rằng nàng không nhìn vào cơ thể của đàn ông mà quan tâm đến những phẩm chất của tinh thần. Phụ nữ yêu không phải người có cơ bắp đẹp mà yêu người có cái để có thể phục tùng (charisma), người có nét hấp dẫn mà không giải thích được, yêu cái điều bí ẩn mà nàng muốn nhận biết. Phụ nữ muốn người mình lựa chọn không chỉ là đàn ông mà là một sự bất ngờ trên bước đường nhận thức. Về mặt sinh lý, đàn ông rất yếu đuối, đàn ông chỉ đạt được cực khoái một lần. Phụ nữ vượt xa đàn ông về mặt này. Phụ nữ có khả năng đạt được cực khoái rất nhiều lần. Đây là một vẫn đề đau đấu. Đàn ông cảm thấy khoái cảm cục bộ đưa đến cảm giác chỉ trong vùng sinh dục (genital). Khoái cảm của phụ nữ, khác với đàn ông, bao trùm tất cả. Toàn bộ cơ thể của phụ nữ là vật dục, nàng có thể nếm trải những cảm giác đặc biệt một nghìn lần mạnh mẽ hơn, sâu lắng hơn, rõ ràng hơn. Nhưng bi kịch ở một điều rằng, cơ thể phụ nữ cần có sự chuẩn bị mà đàn ông thì không quan tâm đến điều này, đàn ông không bao giờ cảm thấy thú vị vì điều này…
Để phụ nữ nhận được khoái cảm một cách đầy đủ, đàn ông cần phải học cách dạo đầu, chuẩn bị cho trò chơi tình ái, đàn ông không nên vội vàng ngủ thiếp. Tình yêu của đàn ông cần như nghệ thuật. Để cho cuộc gặp gỡ của hai người cần có nơi chốn đặc biệt, cần một lâu đài tình ái, nơi có không khí ngát hương, nơi không có ánh sáng mạnh mà chỉ có ánh sáng của những ngọn nến. Gần gũi với phụ nữ chỉ khi trong tâm trạng hưng phấn và vui vẻ để cùng nhau chia sẻ niềm hạnh phúc. Nhưng thường xuyên xảy ra một điều rằng trước cuộc gặp ái ân phụ nữ và đàn ông đi cãi nhau. Điều này đầu độc tình yêu. Tình yêu giống như một thỏa thuận ngừng bắn – dù chỉ trong buổi tối này. Nếu khác đi thì đó là vụ hối lộ, là gian dối.
Đàn ông cần biết ân ái giống như người họa sĩ vẽ tranh, khi mà con tim tùy theo ý, hay giống như văn, thi sĩ khi sáng tác thơ, văn hay giống như nhạc công khi chơi một bản đàn tuyệt diệu. Với cơ thể của phụ nữ cần xử sự giống như nhạc cụ, nghĩa là như vốn có. Khi đàn ông cảm thấy niềm vui thì ân ái trở thành không chỉ là sự giải thoát, là sự thư giãn, là liều thuốc ngủ. Đàn ông đang chơi trò chơi tình ái. Đàn ông khiêu vũ với phụ nữ, hát với nàng theo điệu nhạc du dương trong lâu đài tình ái. Tình yêu cần trở nên một thứ rất thiêng liêng. Một khi tình chưa trở thành thiêng liêng thì trong đời thường sẽ chẳng có gì thiêng liêng hết cả. Điều này trở thành sự khởi đầu của cái được gọi là siêu nhận thức.
Tình yêu không chịu đựng sự cưỡng bức, tình không phụ thuộc vào sự gắng sức của con người. Tình yêu không nên khởi đầu từ trí tuệ. Con người ăn chơi, nhảy múa, hát hò, hưởng lạc, tình yêu là một phần của niềm vui bất tận. Tình tuyệt vời khi tình tự đến. Tình yêu tự do sẽ nở hoa. Tình yêu cưỡng bức là quái gỡ…
Những điều khác biệt này hoàn toàn tự nhiên, chúng không can hệ gì với thành kiến. Và còn những điều khác biệt khác nữa. Thí dụ, phụ nữ thiên về tình cảm hơn đàn ông… Phụ nữ điềm đạm hơn, chịu đựng hơn, bình tĩnh hơn, phụ nữ biết chờ đợi. Rất có thể rằng, chính nhờ những phẩm chất này mà phụ nữ có sức đề kháng bệnh tật tốt hơn nên họ sống lâu hơn. Phụ nữ sẽ bổ sung cho đàn ông bằng vẻ bình thản và sự tinh tế của mình. Phụ nữ có khả năng bao trùm lên đàn ông bầu không khí của sự ấm cúng và tĩnh lặng. Nhưng đàn ông thực sự sợ hãi và không muốn bầu không khí này. Điều này xuất phát từ sự sợ hãi rơi vào phụ thuộc. Bởi thế, bao đời nay đàn ông luôn giữ khoảng cách với phụ nữ. Đàn ông sợ hãi, vì nhận thức sâu sắc từ bên trong rằng phụ nữ có giá trị hơn. Phụ nữ có khả năng mang lại cuộc đời mới. Chính phụ nữ, chứ không phải đàn ông, được thiên nhiên chọn làm sự kế tục nòi giống…
Trong kinh Upanishad có thể gặp lời răn dạy rất lạ lùng cho những cặp vợ chồng trẻ. Họ đi tìm hiểu Upanishad để tìm hạnh phúc. Kinh nói với cô gái bằng những lời: “Hy vọng con sẽ trở thành mẹ của 10 đứa trẻ, còn đứa con thứ 11 sẽ là chồng của con. Một khi con chưa trở thành mẹ của chồng mình thì con chưa thể là một người vợ thủy chung”. Những lời rất lạ lùng, nhưng chúng là chìa khóa để mở ra sự hiểu biết về con người của tâm lý học hiện đại: mỗi người đàn ông đều đi tìm trong phụ nữ người mẹ của mình còn mỗi người phụ nữ đi tìm trong đàn ông một người cha. Điều này giải thích những cuộc hôn nhân tan vỡ: trong cuộc hôn nhân này không thể tìm được người mẹ của mình. Bạn cưới một phụ nữ về nhà mình không phải để làm mẹ, nàng muốn làm một người vợ, người tình của bạn. Nhưng ân huệ của Upanishad có từ 5 hay 6 ngàn năm trước là đưa ra sự giải thích một hiện tượng của tâm lý học hiện đại. Phụ nữ, dù là ai đi nữa, thiên nhiên đã chỉ định vai trò của người mẹ. Hệ thống phu tử là do con người nghĩ ra, không tự nhiên… Nhưng mẹ thì không thay đổi. Các nhà bác học đã từng tiến hành thí nghiệm: họ đảm bảo đầy đủ mọi thứ cần thiết cho những đứa trẻ sơ sinh – đồ ăn, thuốc men, sự chăm sóc cần thiết… theo như những thành tựu khoa học mới nhất của các ngành khoa học khác nhau, nhưng thật lạ lùng, những đứa trẻ còi cọc, thậm chí chỉ sau 3 tháng đều chết hết. Trong quá trình thử nghiệm trên người ta tìm thấy rằng cơ thể của người mẹ, hơi ấm của người mẹ là những thứ không có gì thay đổi được để cho cuộc đời mới phát triển. Trong vũ trụ mênh mông và giá lạnh, hơi ấm của người mẹ là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại của đứa bé, còn nếu khác, nó sẽ cảm thấy mình bị bỏ rơi. Nó sẽ đau ốm và sẽ chết…
Đàn ông không nên cảm thấy mình thấp kém hơn phụ nữ. Sự so sánh sẽ tự xuất hiện bởi vì chúng ta coi đàn ông và phụ nữ như hai bản thể khác nhau. Nhưng họ đều thuộc về một loài người, những phẩm chất của họ bổ sung cho nhau. Họ cần có nhau, và chỉ cùng nhau họ tạo ra một tổng thể hài hòa. Cần đối xử với cuộc đời một cách tĩnh lặng. Sự khác biệt – đấy không phải là sự mâu thuẫn. Chúng hỗ trợ cho nhau. Người phụ nữ yêu bạn có thể góp phần tăng cường những khả năng sáng tạo của bạn, là nguồn cảm hứng cho bạn đạt đến những đỉnh cao mà thậm chí trước đây bạn chưa từng mơ ước đến, và nàng không đòi lại một thứ gì. Nàng chỉ cần tình yêu của bạn, và đó là một quyền lợi tự nhiên.
Nhiều sự khác biệt giữa phụ nữ và đàn ông gắn liền với chế định. Cần duy trì những sự khác biệt, vì rằng chính sự khác biệt làm cho đàn ông và phụ nữ cần nhau nhưng không nên sử dụng chúng với mục đích xét đoán nhau. Tôi ao ước cho đàn ông và phụ nữ trở thành một cơ thể thống nhất trong khi vẫn hoàn toàn tự do, bởi vì tình yêu không bao giờ biến thành ách nô lệ mà tình yêu mang lại tự do. Chỉ khi đó chúng ta có thể làm cho thế giới tốt đẹp hơn. Một nửa thế giới không được phép thể hiện mình – đấy là phụ nữ, là nửa thế giới có nguồn năng lượng dự trữ to lớn để thay đổi thế giới. Một nửa này có thể biến thế giới thành một thiên đường.
Phụ nữ cần tìm thấy trong tâm hồn mình tiềm năng và phát triển nó, khi đó phụ nữ sẽ có một tương lai tươi sáng. Đàn ông và phụ nữ không nên so sánh, họ là duy nhất. Sự gặp gỡ của hai sinh vật duy nhất sinh ra điều kỳ diệu.