Osho song ngữ: A Spiritual Revolution 14-15-16-17


BÀI HỌC CỦA HỌC VIỆN ANH NGỮ THẦN CHÚ

 

14. Family

 

Everybody is born in a family. I was born in a family.

Mọi người đều được sinh ra trong một gia đình. Tôi cũng được sinh ra trong một gia đình.

 

In India the family is not the same as in the West. In the West it is just singular: the husband, the wife, one, two or three children, maybe five people in the family.

Ở Ấn Độ, gia đình không giống như ở Phương Tây. Ở phương Tây, gia đình là con số đơn: người chồng, người vợ, một, hai hay ba đứa con, cùng lắm năm người trong một gia đình.

In India the family is uncountable. There are hundreds of people: all the cousins, uncles, aunts, living together. I have seen the whole mess of it. That experience was enough.

Ở Ấn Độ, gia đình là không thể đếm được. Có tới hàng trăm người trong một gia đình: tất cả mọi họ hàng, chú bác, cô dì – sống cùng với nhau. Tôi đã thấy toàn thể sự hỗn độn đó. Kinh nghiệm đó là quá đủ.

 

In fact, those sixty people helped me not to create my own family.

Trên thực tế, sáu mươi người đó đã giúp tôi rất nhiều trong việc không tạo ra gia đình của riêng mình.

 

If you are intelligent enough, you learn even from other people’s mistakes.

If you are not intelligent, then you don’t learn even from your own mistakes.

 

Nếu bạn đủ thông minh, bạn học từ lỗi lầm của người khác.

Nếu bạn không đủ thông minh, thế thì bạn thậm chí không học được gì từ lỗi lầm của chính mình.

 

In the family I saw the whole circus: the misery, the continuous conflict, fights about small things, meaningless.

Trong gia đình, tôi đã thấy toàn thể một rạp xiếc: những thống khổ, những tranh đấu liên tục, tranh đấu vì những điều nhỏ nhặt, vô nghĩa.

 

My own mother was married when she was seven years old and my father was not more than ten years old. After the marriage, perhaps one or two years afterwards, my father’s mother died, she had left four kids and the whole responsibility fell on my mother.

Mẹ đẻ của tôi đã kết hôn khi bà mới chỉ bảy tuổi và cha tôi không hơn mười tuổi khi ấy. Sau khi kết hôn, có lẽ một hay hai năm sau đó, bà nội mất, bà để lại bốn đứa trẻ con và toàn thể trách nhiệm dồn lên vai mẹ tôi.

 

My father never had any experience of the freedom of young people of today. Before he could have become young, he was already old because of taking care of his younger brothers and sisters and the shop.

Cha tôi chưa bao giờ có bất cứ kinh nghiệm nào về tự do của người trẻ ngày nay. Bởi vì trước khi trở thành người trẻ, ông ấy đã già rồi, bởi việc chăm sóc những em trai em gái và cái cửa hàng nữa.

 

15. Invisible

 

From my very childhood I was in love with silence.

Từ thời thơ ấu tôi đã yêu sự im lặng.

As long as I could manage I would just sit silently.

Bất cứ khi nào có thể, tôi sẽ chỉ ngồi im lặng.

 

Sometimes my mother would come to me and say something like, “There seems to be nobody in the whole house. I need somebody to go to the market to fetch some vegetables.”

Thỉnh thoảng mẹ tôi đến chỗ tôi và nói gì đó như là, “Dường như không có ai ở nhà cả. Mẹ cần ai đó ra chợ mua cho mẹ ít rau.”

 

I was sitting in front of her and I would say, “If I see somebody I will tell…”

Tôi ngồi ngay đó trước mặt mẹ và tôi sẽ nói, “Nếu con thấy ai, con sẽ nói…”

 

Once or twice they tried and then they found that it is better to leave me alone, because in the morning they would send me to fetch vegetables, and in the evening I would come to ask, “I have forgotten for what you had sent me, and now the market is closed…”

Một hay hai lần mọi người thử và rồi họ phát hiện rằng tốt hơn cả là hãy để tôi một mình, bởi vì vào buổi sáng họ sẽ bảo tôi đi mua rau và vào buổi tối tôi mới trở về và nói, ‘Con quên mất mọi người sai con đi mua gì rồi, và đàng nào giờ chợ cũng đã đóng…”

 

My mother said, “It is not your fault, it is our fault. The whole day we have been waiting, but in the first place we should not have asked you. Where have you been?”

Mẹ tôi nói, “Đây không phải lỗi của con, đây là lỗi của chúng ta. Cả ngày chúng ta đã đợi con, nhưng ngay từ đầu chúng ta không nên sai con mới phải. Con đã ở đâu cả ngày thế?”

 

 

I said, “As I went out of the house, just close by there was a very beautiful bodhi tree and it was so tempting for me that I could not pass it without sitting under it for some time. And those moments of peace, I think sometimes may have stretched the whole day.”

Tôi nói, “Khi con ra khỏi nhà, con thấy một cái cây bồ đề rất đẹp ngay gần đây và nó quá cám dỗ đến nỗi con không thể đi qua nó được, con phải ngồi xuống một lát. Và những giây phút bình yên đó, con nghĩ một lát có thể sẽ bị kéo dài thành cả ngày.”

 

After just a few disappointments they thought, “It is better not to bother him.”

Sau vài lần thất vọng, họ nghĩ, “Tốt hơn cả là đừng bận tâm đến nó.”

 

And I was immensely happy that they had accepted the fact that I am almost non-existent. It gave me tremendous freedom.

Và tôi hoàn toàn hạnh phúc khi họ chấp nhận sự thật rằng tôi gần như không tồn tại. Điều đó cho tôi sự tự do vô cùng.

 

Nobody expected anything from me. Không ai trông đợi bất cứ gì từ tôi cả.

 

When nobody expects anything from you, when the world has accepted you, you fall into a silence of existent. You are free.

Khi không ai trông đợi bất cứ điều gì từ bạn, khi cả thế giới chấp nhận bạn, bạn rơi vào sự im lặng của sự tồn tại. Bạn tự do.

 

16. Baba – Paternal Grandfather

 

My paternal granfather – Baba always hated the city’s life but loved the countryside. When his wife died he was absolutely free. He got rid of the city, got fifty acres of land free from the government and enjoyed creating a garden, creating a farm, enjoying the wild world with fresh open air.

Just sometimes he would come back the city to visit the family.

Or once in a while I used to go to him.

 

Ông nội tôi – Baba luôn ghét cuộc sống ở thành phố nhưng ông yêu vùng thôn quê. Khi vợ mất, ông hoàn toàn tự do. Ông ra khỏi thành phố, nhận năm mươi mẫu đất từ chính phủ và tận hưởng việc làm vườn, chăm sóc trang trại, tận hưởng thế giới hoang dã với không khí trong lành.

Chỉ thỉnh thoảng ông trở lại thành phố để thăm gia đình. Hay thi thoảng tôi đến thăm ông.

 

He always liked me to massage his feet because he was so old and working so hard on the field.

Ông luôn thích tôi mát xa chân cho ông bởi vì ông đã già và lại làm việc rất chăm chỉ trên cánh đồng.

 

But I told him “Remember, I am not fulfilling any responsibility. I don’t have any responsibility towards anyone in the world. I love you, and I will massage your feet but only up to the point where it is not troublesome to me. So when I stop, never ask me to do a little more. I will not. I am doing it out of my joy, not because you are my grandfather. I could have done the same to any beggar, any stranger, just out of love.”

Nhưng tôi nói với ông, “Ông nghe này, con không đang hoàn thành trách nhiệm nào cả. Con không có bất cứ trách nhiệm nào với ai trên thế giới này. Con yêu thương ông, và con sẽ mát xa chân ông nhưng chỉ tới khi con còn thích làm. Vậy nên khi con dừng, đừng đòi con làm thêm đấy. Con sẽ không làm đâu. Con làm điều này chỉ vì con thích, không phải bởi vì ông là ông của con. Con có thể làm điều này cho bất cứ người ăn xin nào, bất cứ người lạ nào, nhưng chỉ vì tình yêu.”

 

He understood the point. He said “I never thought that responsibility and love are two things. But you are right. When I am working on the field, I always feel I am doing it for my children and their children, as a duty. It is heavy on my heart. But I will try to change this attitude of responsibility. I may be too old to change, it has become a fixation in my mind, but I will try to change.”

Ông hiểu điều đó. Ông nói, “Ta chưa bao giờ nghĩ rằng trách nhiệm và yêu thương là hai thứ. Nhưng con nói đúng. Khi ta làm việc trên cánh đồng, ta luôn cảm thấy ta làm nó vì con cái và cháu chắt, như một trách nhiệm. Nó đè nặng lên trái tim ta. Nhưng ta sẽ cố gắng thay đổi quan điểm này về trách nhiệm. Ta có thể quá già để thay đổi, nó đã hằn vào tâm trí ta như thế, nhưng ta sẽ cố gắng thay đổi.”

 

I said to him “There is no need. If you feel it is becoming a burden on you, you have done enough. You rest. There is no need to continue working, unless you enjoy the open sky and the green field and love these trees and the birds. If you are doing it out of joy and you love your children and you want to do something for them, only then continue. Otherwise stop.”

Tôi nói với ông, “Không có nhu cầu. Nếu ông cảm thấy nó trở thành gánh nặng, ông đã làm đủ rồi. Ông nghỉ ngơi đi. Không có nhu cầu tiếp tục làm việc, trừ khi ông thích thú bầu trời trên đầu và ruộng đồng màu xanh và yêu những cái cây và lũ chim. Nếu ông làm việc vì niềm vui và ông yêu con cháu mình và ông muốn làm gì đó cho chúng, chỉ khi đó hãy tiếp tục. Không thì dừng lại thôi.”

 

17. Cooking is an art.

 

Baba was not a religious man, not at all. He was closer to Zorba of the Greek: eat, drink and be merry; there is no other world, it is all nonsense.

Baba không phải người tôn giáo chút nào. Ông giống với Zorba của Hi Lạp: ăn, uống và vui vẻ, không có thế giới nào khác, nó là vớ vẩn.

 

My grandfather was an atheist and my father turned out to be a theist. And whenever my father would go to the temple, my grandfather would laugh and say “Again! Go on, waste your life in front of those stupid statues!”

Ông là một người vô thần và cha tôi vì thế đã trở thành người hữu thần. Và bất cứ khi nào cha tôi đi đến ngôi đền, ông tôi lại cười lớn và nói, “Đi nữa à? Đi đi, lãng phí cuộc đời con trước những bức tượng ngu xuẩn đó.”

 

Baba loved food so much that he used to not trust anybody. He would prepare foods himself. Cooking was not just cooking, it was art to him. Look at the way he worked, almost like a sculptor or a musician or a painter. He loved cooking so much that every week it was a feast for all his friends.

Baba yêu đồ ăn đến nỗi ông không tin tưởng bất cứ ai cả. Ông thích tự mình nấu đồ ăn. Nấu ăn không chỉ là nấu ăn, nó là nghệ thuật đối với ông. Nhìn cách ông nấu nướng cứ như một nhà điêu khắc hay một nhạc sĩ hay một hoạ sĩ vậy. Ông yêu nấu nướng đến nỗi mỗi tuần ông lại tổ chức tiệc tùng cho bạn của ông.

 

And just to defy Jainism, he would make many kinds of drinks and wait till the sun set to gather all the atheists of the town. He would not eat before because Jainism says: eat before sunset; after sunset eating is not allowed. He used to send me again and again to see whether the sun had set or not.

Và chỉ để chống lại đạo Jaina, ông thường làm đủ mọi loại đồ uống và đợi đến khi mặt trời lặn mới tụ tập những người vô thần trong phố lại để ăn uống. Ông sẽ không ăn trước khi mặt trời lặn bởi vì người Jaina nói: ăn trước khi mặt trời lặn, sau khi mặt trời lặn thì không được phép. Ông thường bảo tôi đi xem mặt trời lặn hay chưa.

 

He annoyed the whole family but they could not be angry with him so they were angry at me. That was easier. They said “Why do you go on coming again and again to see whether the sun has set or not? That old man is getting you also lost, utterly lost.”

Ông quấy rầy cả nhà nhưng họ không thể nổi giận với ông vậy nên họ nổi giận với tôi. Điều đó dễ hơn. Họ nói, “Tại sao con lại cứ đi xem mặt trời lặn hay chưa? Ông già đó cũng làm cho con lạc lối rồi.”

 

Phi Tuyết

Mantras Academy